Tin tức

Làm thế nào để giảm chi phí Logistic

Chúng ta đang đối mặt với thực tế chi phí logistics Việt Nam chiếm tỷ trọng cao trên GDP (khoảng chừng 23-25%). Trong khi tỷ trọng này ở mức 5-7% tại các nước châu Âu và Thai Lan là 16%, Malaysia 12%. Chính phủ và nhiều Hiệp hội chuyên ngành như VLA, VATA đã tổ chức nhiều hội thảo phân tích nguyên nhân và tìm giải pháp giảm thiểu chi phí logistics nhưng đến nay kết quả vẫn không khá lên.

Các hoạt động thương mại liên quan chuỗi cung ứng logistics từ khi là nguyên liệu đến sản phẩm trao tay người tiêu dùng ảnh hưởng đến giá thành logistics. Cho nên cơ cấu chi phí logistics gắn liền với nhiều yếu tố cấu thành. Ở đây chúng ta chỉ xin bàn đến các yếu tố thuộc nhóm giải pháp nâng cao năng lực doanh nghiệp vận tải, giao nhận dịch vụ logistics.

Trước hết xin nêu ra các nguyên nhân cơ bản mà các chuyên gia logistics đã rút ra bao  gồm:

  • Do thiếu chuyên nghiệp, sợ rũi ro phần lớn các doanh nghiệp xuất nhập khẩu VN mua hàng với điều kiện giá CIF và bán ở điều kiện giá FOB. Với điều kiện này, toàn bộ khâu thuê tàu và bảo hiểm  hàng hóa trao tay cho các doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi số ít các doanh nghiệp có năng lực lại trao quyền cho các nhân viên xuất nhập khẩu tự ý định đoạt việc thuê tàu nảy sinh mâu thuẩn giữa lợi ích cá nhân và công ty và giá cước luôn ở mức cao.

  • Tốc độ container hóa vẫn còn thấp nhiều mặt hàng xuất khẩu dạng rời, nghiệp vụ đóng gói kém làm ảnh hưởng tốc độ xếp dỡ và tăng chi phí công nhân, kho bãi, chiếm cầu bến khi làm hàng. Mặt khác, đa phần kho bãi vẫn còn khai thác ở mức truyền thống chưa có hệ thống kệ kho thông minh, không sử dụng phần mềm IT trong quản trị nên hiệu quả khai thác kém, mất nhiều thời gian.

  • Quy mô các doanh nghiệp logistics bao gồm các doanh nghiệp vận tải nhỏ hoạt động đơn lẻ, thiếu liên kết. Trình độ quản lý của nhiều doanh nghiệp còn ở mức sơ khai không đủ để đảm nhận các đơn hàng lớn do vậy giá vận tải và các chi phí logistics khác cao và rũi ro quản lý lớn (cháy nổ, ẩm mốc hàng hóa, giao thiếu hàng...). Hơn nữa một thực trạng đáng buồn là các doanh nghiệp này chỉ đảm nhận một số dịch vụ như vận tải, cho thuê kho truyền thống, thủ tục hải quan, kiểm dịch động/ thực vật với lợi nhuận thu được khiêm tốn, còn lại nhiều dịch vụ khác trong chuỗi cung ứng đành phải nhường cho các doanh nghiệp logistics nước ngoài.   

  • Chi phí vận tải đường bộ chiếm phần lớn trong chi phí logistics trong khi các doanh nghiệp vận tải VN phải gánh nhiều chi phí không chính thức bao gồm phí qua các trạm BOT không hợp lý, phí chi trả cho cơ sở hạ tầng tại các vùng biên giới khi tham gia vận tải hàng hóa qua biên giới (CBT), các chi phí khác phải trả cho hãng tàu như phí vệ sinh container các phụ phí xếp dỡ cảng, và nhiều phụ phí khác do hãng tàu đặt ra và chi phí lót tay bôi trơn.

  • Thời gian hoàn tất thủ tục hàng hóa còn chậm bao gồm thủ tục hải quan (như mã áp thuế hàng hóa vẫn còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, khâu kiểm hóa, kiểm dịch động/ thực vật, giám định kỹ thuật… tuy đã cải thiện nhưng vẫn còn quá lâu so với yêu cầu giải phóng hàng hóa, gây khó khăn và làm mất thời gian  mà thời gian là một nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng và giá cả logistics.

  • Thứ sáu, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vẫn chưa đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hóa đặc biệt tại các vùng có cảng thường xảy ra nạn ùn tắc giao lưu hàng hóa; tốc độ phương tiện bình quân trên đường chỉ ở mức 40km/h trong khi ngay ở Thai lan hoặc Malaysia tốc độ bình quân đã đến 80km/h phương tiện vận tải hàng hóa có làn ưu tiên riêng.

  • Vận tải đường bộ nước ta vẫn phụ thuộc vào giá dầu vì giá nhiên liệu chiếm tỷ trọng đến từ 38-45% doanh thu vận tải.

  • Các trung tâm hàng hóa (cargo hub) phân bố tự phát, bất cập nên xảy ra trường hợp khá phổ biến là tỷ lệ xe chạy rỗng (không có hàng) rất cao làm đội giá vận tải. Hành lang kinh tế đông tây (EWEC) cũng như hàng hóa tuyến đường dài trong nước là các ví dụ điễn hình. Hàng từ Thái Lan về VN đang tăng mạnh nhưng lượng hàng ngược lại từ Đà Nẵng lại không có cũng như lượng hàng từ Tp HCM ra các tỉnh bắc miền Trung rất lớn nhưng lại không có hàng ngược lại.

  • Chỉ riêng trong khâu vận tải đường bộ chúng ta vẫn còn nhiều rào cản, tác động trực tiếp làm cho chi phí vận tải cao.

Phân tích những nguyên nhân cơ bản trên, xin tập trung một số giải pháp nhằm góp phần giảm chi phí logistics như sau:

1. Nhanh chóng lập Ủy ban logistics quốc gia và địa phương. Ý kiến này đã được các Hiệp hội đề cập tư rất lâu nhưng đến nay vẫn chưa hình thành được.  Ủy ban này sẽ bao gồm các giáo sư đầu ngành logistics, các chuyên gia là những người có thâm niên kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực logistics vận tải có tâm huyết và các nhà quản lý đại diện Nhà nước. Đây là Ủy ban tạo sự kết nối chặt chẽ giữa khu vực công –tư, có chịu trách nhiệm đối với việc thực thi các chiến lược phát triển logistics quốc gia theo hướng tiên tiến, hiệu quả và bền vững.

Kinh nghiệm tại Thái Lan, Malaysia và Hong Kong qua việc sử dụng khí LPG thay cho dầu DO và gắn sự hỗ trợ tài chính cho hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thiết bị vận tải (ngân hàng trung ương cho vay với lãi suât khuyến khích) đã cải thiện nhanh chóng hoạt động logistics tại các quốc gia này.

2. Cần có chiến lược quốc gia cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics trong nước bằng việc hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ lãi suất ngân hàng trẻ hóa đội xe, cung cấp phần mềm quản lý phương tiện vận tải, quản lý kho bãi, quản lý hoạt động giao nhận, hỗ trợ quỹ đất tại các khu vực tập trung họat động logistics, tạo cầu nối cho các doanh nghiệp liên kết, hội nhập.

Học viện Mekong Institute có văn phòng chính tại Thái Lan, tổ chưc GIZ là các tổ chức phi chính phủ gần đây rất tích cực thể hiện vai trò này. Ho cần sự chung tay, đồng hành từ Chính phủ hợp tác trong công tác đào tạo cán bộ công chức trong ngành và lái xe sinh thái.

3. Cần có nhiều chính sách hơn nhằm kích thích, khuyến khích các hoạt động logistics nhất là tính nhất quán trong các Bộ, ngành. (Ví dụ: hiện nay các phương tiện vận chuyển hàng hóa khi làm thủ tục hải quan tại một số cửa khẩu khu vực miền Trung gặp vướng mắc về quy định tại điều 75 Nghị định 08/ 2015 NĐ-CP ngày 21/01/2015 quy định “giấy đăng ký phương tiện đối với ô tô Viêt Nam tạm xuất: Xuất trình bản chính” trong khi rất nhiều doanh nghiệp vận tải sử dụng Giấy xác nhận của các tổ chưc tín dụng nơi mà phương tiện được thế chấp vay đầu tư. Điều này đã được tháo gỡ cho các doanh nghiệp qua Công văn số 7000/NHNN-PC ngày 31 tháng 08 năm 2017. Thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, thiếu thống nhất khác trong việc áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu, các chính sách thuế..).       

4. Cần có chiến lược gắn kết giữa nhà xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp logistics sao cho các doanh nghiệp logistics trong nước có cơ hội nhiều hơn giành các quyền vận tải, bảo hiểm và nhiều dịch vụ khác trong chuỗi cung ứng logistics bằng việc thay đổi tập quán mua CIF bán FOB bằng mua FOB/ FCA bán CIF, có chinh sách ưu đãi cụ thể cho những doanh nghiệp đạt chuẩn Việt Nam về chất lượng dịch vụ cũng như gắn kết với các doanh nghiệp trong nước.

5. Nhanh chóng cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông trong các khu vực cảng biển, giành cho giao thông hàng hóa tuyến đường riêng, thông thoáng nhằm tăng tốc độ vận tải bình quân ngang mức 70- 80km/h như các nươc Malaysia, Thái Lan hiện nay. Kết nối cảng biển, giao thông đường sắt, đường sông, đường hàng không- được xem là huyết mạch lưu thông hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chuyển hàng hóa trong thời gian ngắn nhất, thuận tiện nhất, tiết kiệm chi phí nhất.

6. Nâng cao năng lực và thái độ thân thiện của các công chức hoạt động trong lĩnh vực liên quan logistics bao gồm cảng vụ, hoa tiêu, hải quan, cán bộ đăng kiểm, công an biên phòng, cán bộ kiểm định hàng hóa xuất nhập khẩu, cán bộ y tế kiểm dịch động/ thực vật.. . Cần nhận thức rằng doanh nghiệp là đối tượng khách hàng để phục vụ, nói không với việc nhận tiền khi làm nhiệm vụ. Cần có công cụ để đo lường được mức độ hài lòng của các doanh nghiệp.

7. Cần sớm giải quyêt dứt điểm xóa bỏ các thu phí BOT giao thông không hợp lý (khoảng cách giũa 2 trạm và bảo đảm sự lựa chọn của người tham gia giao thông). Công khai, minh bạch vốn đầu tư, thời gian hoàn vốn đối với từng trạm thu phí BOT.

8. Nâng cao khả năng khai thác vận tải 2 chiều giảm thiểu xe chạy rỗng qua việc xây dựng chiến lược tạo vùng tập trung hàng hóa, khai thác thế mạnh của chợ vận tải online.

9. Nâng cao năng lực vận tải bằng đường sắt, đường sông và đường hàng không bằng các biện pháp cổ phần hóa và tư nhân hóa tạo sự canh tranh lành mạnh, bình đẳng, khuyến khích sự sáng tạo trong khai thác điều vận.

10. Cần có nhiều hơn các chính sách, chủ trương của Chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics.

Trên đây là một số góp ý của Hiệp Hội VATA về các giải pháp giảm chi phí dịch vụ logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải.

Mong rằng qua Hội nghị này sẽ tìm ra được hướng đi mới, chiến lược mới nhằm góp phần đẩy mạnh hiệu quả khai thác hoạt động logistics Việt Nam trong giao đoạn mới năng động, sáng tạo và bền vững hơn.

Tô Văn Hiệp - 12/2017

Tin liên quan